LƯỢT TRUY CẬP
234,260
Nghề khắc ván in mộc bản ở Hồng Lục

Thế kỷ thứ III nhân dân ta đã biết làm nhiều loại giấy bằng cây dó, dong biển… đặc biệt là giấy làm bằng cây và vỏ cây trầm hương có mầu trắng, mùi thơm và bền, lái buôn La Mã đã mua hàng vạn tờ cho vua nước họ, bấy giờ châu Âu chưa biết làm giấy. Nghề làm giấy phát triển tạo điều kiện cho nghề in ra đời. Vào thế kỷ thứ X, Nam Việt Vương Đinh Liễn cho khắc kinh Phật lên trụ đá dựng tại Hoa Lư vào năm Quý Dậu (973).

Từ việc khắc được chữ trên đá, thì việc khắc chữ trên gỗ để in là việc có thể làm được. Vào thời Lý, kinh Phật được khắc in trong các nhà chùa và đã có người chuyên khắc ván in. Đến thế kỷ thứ XIV nghề in mộc bản đã đạt được những thành tựu lớn. Năm Hưng Long thứ 7 (1299) vua Trần đã cho in các sách Phật giáo, pháp sư, đạo trường, công văn… ban bố cho thiên hạ. Năm Đại Khánh thứ 6 (1319) Pháp Loa in 5.000 cuốn kinh Đại Tạng lưu ở Viện Quỳnh Lâm. Đến đời Lê, nghề in không còn bó hẹp trong các nhà chùa và do nhu cầu về sách ngày càng lớn, do đó đã hình thành một trung tâm in sách cho cả nước, trung tâm ấy không nằm trong kinh thành Thăng Long, không phụ thuộc một cơ sở tôn giáo mà lại ở ba làng miền đồng bằng, thuộc phủ Hạ Hồng của Thừa tuyên Hải Dương.

Mùa xuân năm Đại Bảo thứ 3 (1442), Lương Như Hộc người làng Hồng Liễu, huyện Trường Tân, phủ Hạ Hồng thi đậu Thám hoa và sau này trở thành ông tổ nghề in mộc bản của Hồng Lục.

Đỗ đại khoa năm trước, năm sau Lương Như Hộc được cử đi sứ sang nhà Minh, 16 năm sau ông lại đi tiếp lần thứ 2. Ông làm quan trải hai triều Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: An phủ xứ, Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ tả thị lang, Trung thư lệnh kiêm Bí thư giám học sĩ, Đô ngự sử. Ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Là người học vấn uyên bác, quan tâm đến nền giáo dục và nâng cao trình độ văn hoá cho dân tộc, ông đã thừa kế và phát huy nghề in của đất nước, học hỏi thêm kỹ thuật của nước ngoài trong các lần đi sứ và đã thành công nghề in mộc bản ngay tại quê hương. Ông đã có công đưa nghề thủ công cao cấp vào một làng quê, đất đai màu mỡ và lấy nông vi bản là một việc làm không dễ. Từ hai học trò cần mẫn đầu tiên là Phạm Niên (Phạm Trên) và Phạm Đới (Phạm Dưới) nghề khắc mộc bản in đã hình thành ở các làng Hồng Lục (Liễu Tràng , Đình Sinh, Khuê Liễu). Không bao lâu sau, nghề khắc mộc bản và nghề in sách ở đây nổi tiếng, đảm đương việc khắc in những bộ sách đồ sộ. Năm Chính Hoà 18 (1697) thợ Hồng Lục vâng lệnh triều đình, khắc in bộ Đại Việt sử ký toàn thư - Bộ sách lịch sử quan trọng bậc nhất của dân tộc.

Tuy vẫn lấy nghề nông làm gốc, nhưng nghề khắc ván in được xã hội đương thời trọng dụng, mang lại đời sống khá giả cho nhân dân 3 làng, dù không làm ruộng họ cũng đủ ăn. Vì thế ở đây đã có câu ca:

Đình Sinh, Quán Sếu, làng Tràng

Trong 3 làng ấy không làm, cũng có ăn

Do thường xuyên hành nghề ở các trung tâm văn hoá, tiếp xúc với các học giả uyên thâm, các nhà sư cao đạo và do bản thân nghề nghiệp tạo cho con người làm nghề khắc ván in có tri thức văn hoá tối thiểu, đời sống ổn định, cách xã giao lịch thiệp.

Thợ khắc ván in thời xưa gọi là "tử nhân". Muốn làm nghề khắc ván in phải học việc, có thầy hướng dẫn chu đáo, phải tập khắc nhiều lần, tinh ý cũng phải một năm mới thành nghề. Người thợ khắc ván in phải thuộc 200 bộ chữ Hán, hiểu luật viết chữ Hán, chữ Nôm và thuộc mặt chữ càng nhiều càng tốt. Thuộc dạng các chữ viết xuôi chưa đủ mà còn phải nhận được dạng các chữ in ngược vì bản khắc chữ ngược, khi in mới được chữ xuôi. Ngoài yêu cầu về thuộc mặt chữ, người thợ phải rèn luyện phong cách làm việc chính xác, tỉ mỉ, tinh tường và sự kiên nhẫn phi thường so với nhiều nghề thủ công khác. Cũng như in chữ quốc ngữ hiện nay, chữ Hán, chữ Nôm chỉ cần sai một dấu chấm là dẫn đến sự hiểu lầm tai hại. Nghề khắc ván in phần lớn được kế thừa theo gia truyền. Thợ khắc kinh, truyện hay các bộ sách quan trọng của Triều đình thì phải thi tuyển, có tay nghề giỏi mới được làm. Cách đây non 1 thế kỷ Hồng Lục có ngót 100 thợ khắc nhưng chỉ khoảng 20 người đủ trình độ khắc kinh sách.

Gỗ khắc ván in tốt nhất là gỗ thị, thứ đến gỗ thừng mực. Gỗ thị dẻo, thớ mịn, không mọt, bền chắc, ít bị mối mục, dễ tìm kiếm ở nông thôn thời xưa. Gỗ thừng mực nhẹ, ít cong vênh, ít khi bị mối mọt nhưng không dẻo và bền chắc bằng gỗ thị và phải khai thác ở miền núi vì đồng bằng không có.

Công cụ của người thợ khắc gồm có: Một cưa con để cắt gỗ thành từng tấm nhỏ, một hai cái bào lưỡi phẳng, khoảng 10 cái đục và bướm to nhỏ khác nhau, một dao gọt gỗ bằng thép tốt dài chừng 25 cm, một công cụ vẽ hình tròn (compa) và một, hai dao khắc lưỡi bằng. Gọi là dao nhưng hình giống cái đục, lưỡi không phẳng như lưỡi đục mà giữa hơi lõm hình trăng khuyết.

Bản mộc dày chừng 1,5 cm, thường khắc 2 mặt để tiết kiệm gỗ. Mỗi bản khắc gồm hai trang tuỳ theo khổ sách. Khi bản mộc được làm xong đưa lên giá khắc. Giá khắc như mọt cái ghế dài (30 cm x 70 cm), 4 chân bằng tre cao khoảng 40 cm. Thợ khắc ngồi trên ghế con hoặc chiếu, dụng cụ để trong ống tre lót giẻ. Bản mẫu khắc viết bằng mực nho lên giấy bản, giấy càng mỏng càng tốt, chữ ngang bằng sổ ngay đúng lối chữ in. Để viết các chữ đều nhau, thẳng hàng ngang, hàng dọc, người ta in sẵn các bản thông bằng son để viết mẫu. Bản thông có các đường kẻ dòng, mỗi dòng có các ô chữ, mỗi ô chữ lại được chia làm 3 để bố cục các bộ trong một chữ cho chuẩn xác. Nếu không có bản thông thì phải có tờ giấy kẻ ô đặt dưới giấy viết mẫu, gọi là lờ nòng, lấy cơm nóng, dẻo, nghiền nhuyễn miết lên bản khắc, dán mặt viết chữ của bản mẫu vào vào bản khắc, vuốt nhẹ cho tờ giấy dính vào mặt gỗ, lấy tay xoa đi, xoa lại làm cho tờ giấy mỏng dần, các chữ đen nổi rõ từng nét. Dùng đục và bướm đục các phần không có chữ để khi khắc chữ dễ dàng. Lấy dao khắc lắp vào ốp tay, bắt đầu khắc từng chữ, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải khắc lần lượt trọn vẹn từng chữ. Chữ in khắc nổi, phần gỗ còn lại phải bạt sâu xuống để khi in không bị dính mực. Nếu khắc thẻ, bài vị hay những bản in có nhiều hoa văn thì khắc từ ngoài vào trong, từ đơn giản đến phức tạp. Khắc xong phải ngâm bản khắc xuống nước, rửa sạch giấy và cơm dính trên các chữ. Mỗi bản khắc có hai trang, trung bình một trang là 400 chữ, thợ thành thạo làm mải cũng phải mất 8 ngày, ví như bộ Đại Việt sử ký toàn thư gồm 1.252 trang, mỗi trang là một bản khắc, như vậy phải mất 10.066 công khắc. Nếu mỗi năm làm việc 300 ngày thì 10 thợ khắc đều đặn phải làm trong 3 năm 4 tháng mới hoàn thành. Để có một quyển sách in phải tốn biết bao công sức. Trải qua hơn 5 thế kỷ, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia những người thợ Hồng Lục đã khắc hàng nghìn bộ sách như vậy. Khi đã có bản in thì việc in đơn giản, công việc này thường do phụ nữ đảm nhiệm. Giấy in là giấy bản, thường chỉ in một mặt. Người in ngồi trên ghế nhỏ, phía trước đặt bản in trên cúi rơm cho êm, một bên để chậu mực nho, một bên để chồng giấy đã dọc vừa khổ sách. Dùng chổi rơm bện tròn như bút lông quét mực lên bản in, đặt giấy ngay ngắn trên bản in, lấy bàn xoa bằng xơ mướp xoa nhẹ một lượt rồi lột tờ giấy lên là được một tờ in. Thợ giỏi một ngày in được 2.000 tờ. Những tờ giấy in sau mươi phút là khô mực, các bản in được xếp lên giá, gấp làm đôi, mặt in chữ ra ngoài, so lại cho bằng, dùng giấy bản se lại thành sợi đóng thành từng quyển. Bìa sách bằng giấy dầy hay nhiều lần giấy bản phất cậy. Phất cậy làm cho bìa sách cứng, chống ẩm và đỡ mối mọt. Sách kinh thường dán liên tiếp các tờ lại thành một băng dài, tờ đầu, tờ cuối dán vào 2 bìa gỗ mỏng, làm như thế gọi là đóng xếp. Sách cổ mở từ phải sang trái nên các trang khi đóng cũng phải theo thứ tự ấy. Thường mỗi bản in chỉ in vài trăm cuốn, khi cần lại tái bản vì đã sẵn có bản in được lưu giữ lại rất tiện lợi. Bản in là một tài sản quý được bảo lưu từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, thường tàng trữ trong các đình chùa, văn miếu, xếp lên các giá ở những nơi cao ráo để tránh mối mọt và phòng ngừa hoả hoạn. Chùa Đại Tráng (Bắc Ninh) còn lưu giữ toàn bộ bản khắc của bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác hoặc chùa An Bình (Nam Sách) còn lưu giữ hàng trăm bản in kinh phật…Ngoài việc in sách theo lệnh của Nhà nước, thợ Hồng Lục còn nhận khắc in cho các nhà chùa, nhà xuất bản hay học trò in sách của thầy giáo. Khách in sách tìm đến Hồng Lục hoặc tuyển thợ, hoặc mang ván in đến thuê khắc. Việc khắc in thường làm tại nhà, người thợ tận dụng được lao động phụ và tiện sinh hoạt với gia đình. Tuy nghề khắc ván in là nghề phụ nhưng người thợ thường làm việc quanh năm, việc đồng áng do vợ con chăm lo. Người chủ bản in giữ bản quyền, nếu nhà xuất bản không có bản in trong tay, thì ngoài tiền trả công in còn phải trả cho người chủ bản in một khoản tiền thoả thuận trước. Ở phường Kim Cổ trước đây nay là phố Hàng Trống, Hàng Gai Hà Nội có nhiều hiệu khắc in sách. Những cửa hiệu này đều có tên lót là Văn như: Liễu Văn Đường, Phúc Văn Đường, Đồng Văn Đường…thợ khắc in của các cửa hiệu phần lớn là người Hồng Lục. Ngoài việc khắc ván in, thợ còn khắc các loại dấu bằng gỗ và đồng cho các tổ chức Nhà nước và các cửa hiệu.

Nhiều loại sách còn lưu giữ hàng vạn bản trong các bảo tàng, thư viện là thành quả sáng tác, biên soạn của nhiều tác giả qua nhiều thời gian và cũng là thành quả, công sức của người thợ khắc in mộc bản, trong đó có phần đóng góp to lớn của thợ Hồng Lục. Khi có máy in thay thế, phần lớn thợ khắc ván in chuyển sang khắc dấu và các loại phụ bản cho nhà in, nghề khắc ván in mộc bản ngày càng thu hẹp, nhưng lịch sử đất nước ghi nhận công lao to lớn của người thợ khắc ván in Hồng Lục trong sự nghiệp phát triển văn hoá của dân tộc.

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn
- Nghề thuộc da, đóng giầy Tam Lâm(08/10/2015)
Các tin cũ hơn
- Nghề gốm sứ Quang Tiền(08/10/2015)
TÌM KIẾM
Thông báo
- Thông báo Kết quả xét tuyển công chức cấp xã năm 2017: Chi tiết
- Thông báo về việc tổ chức, kiểm tra, sát hạch xét tuyển công chức cấp xã năm 2017: Chi tiết
- Thông báo về việc thay đổi thời gian tổ chức kiểm tra, sát hạch công chức cấp xã năm 2017: Chi tiết
- Công điện: Cơn bão số 03:
- Công điện: Cơn bão số 02
- Công văn về việc tăng cường sản xuất nông nghiệp ứng phó với cơn bão số 02: Chi tiết
- Thông báo xét tuyển công chức cấp xã năm 2017: Chi tiết
- Kế hoạch xét tuyển công chức cấp xã năm 2017: Chi tiết

Văn bản mới ban hành
Kế hoạch tổ chức tuyển dụng giáo viên các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở thuộc Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc năm 2016
Video Hoạt Động
- Đôi nét về Gia lộc
- Đền Quát thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu
- Hình Ảnh Chợ Đầu Mối Nông Sản
- Huyện Đoàn Gia Lộc
- Lễ hội truyền thống thôn Thị Xá-Hồng Hưng
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN GIA LỘC